(Type) Hậu cung Chân Hoàn truyện – T1C2


Chương 2: Tịch nhan

Người dịch: Hồ Thanh Ái
https://thanhthoigian.wordpress.com

Cứ như thế, giọng ca của Lăng Dung đêm nào cũng vang lên ở Thủy Lục Nam Huân điện.

Bất kể là Hoàng thượng triệu ai thị tẩm, giọng ca cao vút xuyên mây phá trăng của Lăng Dung vẫn vang vọng trong Thái Bình hành cung.

Không thể nói Huyền Lăng không sủng ái Lăng Dung nhưng không phải là quá sủng ái. Theo quy định của tần phi được sủng ái, sau khi thị tẩm thì thường được tấn phong, vậy nên Lăng Dung được tấn phong làm tòng lục phẩm mỹ nhân. Lúc đầu, so với tôi, My Trang và Thuần Nhi, địa vị của Lăng Dung là thấp nhất. Bây giờ My Trang bị giáng xuống làm thường tại, Thuần Nhi vẫn là thường tại, địa vị của Lăng Dung chỉ còn kém mỗi tôi mà thôi.

Lăng Dung được tấn phong, tôi đương nhiên rất vui mừng, nhưng bên cạnh vui mừng còn có chút mất mát và buồn bã khó gọi thành tên, tôi không thể hoàn toàn hoan hỷ, vui sướng như thuở My Trang được sủng ái.

Có lẽ chỉ vì bức thêu quạ lạnh tình cờ nhìn thấy. Mặt ngọc nghĩ thua màu quạ lạnh, còn mang bóng nhật điện vàng bay. Phảng phất niềm thương thân trách phận, kèm theo chút ước ao… Bức thêu đó giúp tôi hạ quyết tâm giúp đỡ Lăng Dung nhưng cũng khiến lòng tôi lưu lại chút dè chừng.

Nhưng ở chốn thâm cung này, với thân thế và hoàn cảnh của Lăng Dung, tự thương thân mình cũng là chuyện đương nhiên mà thôi. Tôi bất giác tự giễu mình không phải là kẻ khoan dung, độ lượng, đến một người gần gũi như Lăng Dung mà cũng sinh lòng nghi ngờ. Chân Hoàn à Chân Hoàn, chẳng nhẽ ngươi đã quên mất những ngày thân mật, gắn bó cùng nhau ở Chân phủ rồi sao?

Tôi thoải mái hơn một chút.

Dưới con mắt của mọi người trong cung, Lăng Dung được sủng ái xem ra chẳng khác Diệu Âm nương tử thứ hai là mấy. Cả hai đều xuất thân thấp kém, dung mạo thanh nhã, lại nhờ giọng ca mà được sủng ái. Tuy nhiên, Lăng Dung dịu dàng, ít nói, không chỉ xử sự nhún nhường mà luôn dè dặt, khéo léo với các phi tần khác, không hề kiêu căng như Diệu Âm nương tử thuở trước. Chẳng những Hoàng hậu hài lòng với nàng ta, Huyền Lăng cũng lên tiếng khen ngợi nàng ta hiền lành, khiêm tốn.

Lăng Dung vẫn đối xử thân mật với tôi như trước, thậm chí còn thân thiết hơn. Mỗi ngày, sau khi thỉnh an Hoàng hậu về, nàng ta đều đến Nghi Phù quán của tôi chơi, thái độ thân thiết, hiền hòa. Trước sự sủng ái của Huyền Lăng, Lăng Dung tựa hồ không thể giữ được vẻ thản nhiên, thoải mái mà lúc nào cũng có bộ dạng rụt rè, cư xử cẩn thận, dè dặt, thật khiến người ta sinh lòng thương hại.

Lăng Dung từng rưng rưng lệ, níu lấy tay áo tôi, nức nở: “Tỷ tỷ có trách Lăng Dung không? Lăng Dung không phải cố ý muốn tranh giành sủng ái đâu”.

Tôi dừng tay, không cắt tỉa mấy cành hoa cắm trong bình nữa, tủm tỉm cười, nhìn sang nàng ta, đáp: “Sao lại trách cơ chứ? Muội có ngày hôm nay, tỷ vui mừng còn không kịp nữa là… Tỷ một tay giúp muội có được ngày hôm nay, sao tỷ có thể trách muội được?”.

Lăng Dung nghẹn ngào, ánh mắt thiết tha. “Nếu khiến cho tỷ tỷ không vui, Lăng Dung sẽ không bao giờ gặp lại Hoàng thượng nữa”.

Tôi vốn không định nói gì thêm, khi nghe nàng ta nói vậy, tôi càng không thể nói được gì, chỉ đành cười, nói đùa với nàng ta: “Đừng nói kiểu đó nữa, cứ như con nít giận dỗi không bằng. Nói gì thì nói, tỷ cũng có thể tính là nửa bà mối cho muội, có tân nương nào vì bà mối mà không thèm nhìn mặt tân lang hay không?”.

Lăng Dung nghe vậy mới đổi buồn làm vui, vẻ mặt hết sức chân thành. “Tỷ tỷ lại trêu ghẹo muội nữa. Nhưng chỉ cần tỷ tỷ không trách muội là được”. Trong lúc trò chuyện, vòng eo của nàng ta hơi chuyển động, tùy theo động tác, trâm ngọc khảm minh châu xanh biếc long lanh, chuỗi ngọc vàng trơn trên mái tóc mây đen nhánh tỏa ánh hào quang lấp lánh, lộng lẫy chẳng kém gì sương sớm dưới ánh mặt trời.

Tôi chỉ tủm tỉm cười, tận tay chỉ dẫn nàng ta cách để cắm hoa vào bình sao cho đẹp nhất.

Tôi thầm nghĩ, Huyền Lăng đối xử với Lăng Dung quả thực không tệ. Lăng Dung đương nhiên đã được chuyển sang nơi khác, giờ nàng ta ở Phồn Anh các tinh xảo bên cạnh hồ Phiên Nguyệt. Số cung nữ, nội giám hầu hạ theo lệ tăng lên gấp bội đương nhiên là không cần nhắc đến, cứ ba, bốn ngày lại có phần thưởng hậu hĩnh ban xuống. Lăng Dung đắc sủng, lại được Hoàng hậu ngầm tương trợ, Hoa Phi tuy tức tối đến nghiến răng nghiến lợi nhưng cũng chẳng làm gì được, nàng ta chỉ càng thêm đề phòng tôi. Nhờ vậy, tôi cũng tạm an tâm, một lòng bày mưu tính kế giúp My Trang.

Ngày tháng vẫn duy trì bề ngoài sóng yên gió lặng, yên bình trôi qua.

Từ khi Lăng Dung đắc sủng, giọng ca lay động lòng người của nàng ta khiến Huyền Lăng sinh lòng đam mê ca vũ, thế là dạ yến hoan lạc rất hay được cử hành trong hành cung, sau yến hội, y lại nghỉ ngơi tại Phồn Anh các của Lăng Dung.

Từ khi vào cung đến giờ, tôi chưa hề thấy Huyền Lăng say mê ca vũ, yến tiệc như thế bao giờ, không khỏi có mấy phần nghi hoặc. Sau đó, khi nói chuyện phiếm với Hoàng hậu, tôi mới biết Huyền Lăng trước đây rất yêu thích những buổi yến tiệc có ca vũ này, chỉ có điều sau khi Thuần Nguyên Hoàng hậu qua đời thì y rất hiếm khi tham gia những buổi tiệc náo nhiệt như thế nữa.

Hoàng hậu tựa hồ chẳng mấy bận tâm đến chuyện Lăng Dung đem lại cho Huyền Lăng nhiều nụ cười và hoan lạc, khi nói chuyện, thần thái bình tĩnh, hàng mi cụp xuống, lông mi dài cong vút, in bóng mờ mờ dưới đuôi mắt. Người chỉ chú tâm vào con linh miêu ngũ sắc tên là Tùng Tử đang ôm trong lòng, con linh miêu này là động vật quý hiếm do nước Cốt La tiến cống, lông có năm màu, màu nào cũng rõ ràng, đều đặn, lông mịn mượt bóng loáng, chẳng khác gì một tấm gấm hảo hạng. Trên mặt nó, hoa văn xám và đen hòa lẫn, nhìn thoáng qua khá giống mặt hổ, đôi mắt hổ xanh biếc, lấp lánh có thần. Hiếm nhất là nó đã được thuần phục, hết sức ngoan ngoãn, vâng lời, Hoàng hậu rất yêu thương nó, thường khen rằng “vẻ hổ tính mèo, hiểu thấu lòng người”, trừ lúc ăn lúc ngủ ra thì lúc nào cũng ôm nó trong lòng nựng nịu.

Mười móng tay như cánh sen của Hoàng hậu sơn màu đỏ tươi rực rỡ, chẳng khác gì màu son được tỉ mỉ vẽ lên đôi môi, lẫn giữa đám lông năm màu của linh miêu càng thêm phần chói mắt. Hoàng hậu ngẩng đầu, nhìn sang tôi, nói: “Ngươi qua đây ôm Tùng Tử một lát đi, nó biết nghe lời lắm!”. Tôi mỉm cười có chút chần chừ, không dám đưa tay ra. Hoàng hậu thấy vậy thì phá lên cười, nói ngay: “Bản cung quên mất chuyện ngươi sợ mèo”.

Tôi cũng cười. “Hoàng hậu quan tâm đến thần thiếp quá, chuyện cỏn con như vậy mà cũng ghi nhớ trong lòng”.

Hoàng hậu giao con linh miêu cho cung nữ hầu cận, tủm tỉm cười, nói: “Thực ta, bản cung tuy yêu thương nó nhưng lúc nào, nơi nào cũng phải để ý, nó dù gì cũng là súc vật, nếu không cẩn thận bị nó cào trúng thì không ổn chút nào”.

Tôi cụp mắt, cười thưa: “Hoàng hậu quá lo xa rồi! Tùng Tử là do một tay người nuôi lớn, hết sức ngoan ngoãn, nghe lời”.

“Vậy sao?”. Hoàng hậu vuốt ve những hình chi chít trên tay áo, nửa cười nửa không. “Lòng người còn khó dò, huống gì là loài súc vật. Càng thân cận, ngoan ngoãn thì càng dễ sinh lòng sơ sẩy”.

Lời nói của Hoàng hậu chứa đựng ẩn ý riêng, tôi chỉ vờ như không hiểu. Hoàng hậu cũng chỉ cười, nói: “Hoa Phi tựa hồ không ưa An Mỹ nhân”. Nghe nói Hoa Phi vô cùng tức tối, mắng chửi Lăng Dung là hồng nhan họa thủy, khiến Hoàng thượng chìm đắm trong ca vũ và mỹ nhân. Huyền Lăng gián tiếp biết được những lời của Hoa Phi, cũng chẳng giận dữ mà chỉ cười cho qua chuyện, nói rằng đúng là “lòng ghen tuông của đàn bà”. Sau đó, mỗi lần có yến tiệc, y đều dắt theo nàng ta tham dự, Lăng Dung lại càng khiêm tốn, rụt rè, khiến Hoa Phi đầy bụng tức giận mà không có cách nào phát tác.

Đêm đến, trong cung lại cử hành dạ yến như thường lệ. Vương công quý tộc đều đưa gia quyến đến tham dự. Yến tiệc linh đình, tung hô vạn tuế.

Đúng là thời thịnh thế phồn vinh, xa hoa trụy lạc.

Lý Trường khẽ vỗ tay một tiếng làm hiệu, tiếng đàn sáo trong đại sảnh du dương ngân vang. Một đám gần trăm ca vũ nhan sắc xinh tươi, tóc bới kiểu đuôi én buông thấp, mặc váy áo mỏng manh trong suốt, nhẹ nhàng lướt vào điện như chim bay, vừa hát vừa múa. Kẻ nào cũng có dung nhan quyến rũ, thân hình thướt tha như bướm lượn vờn hoa. Trong tiếng đàn sáo du dương, đôi cánh tay trắng muốt như bạch ngọc không ngừng biến hóa tạo nên những tư thế uyển chuyển, thu hút sự chú ý của mọi người. Những cô nương xinh đẹp xếp thành hàng ngay ngắn, nhìn từ xa chẳng khác nào làn sóng nhấp nhô, mềm mại.

Hoàng hậu và Hoa Phi ngồi ở hai bên Huyền Lăng, tôi và Lăng Dung ngồi đối diện nhau ở bên dưới.

Lăng Dung mắt trang điểm tỉ mỉ, váy mềm màu đỏ lệ chi bằng vải lụa có hoa văn hình bướm, thắt lưng xanh nhạt tôn lên vòng eo mảnh mai như liễu, trên mái tóc đen nhánh lấp lánh ánh châu ngọc, lúc che miệng mỉm cười lộ nét duyên ngầm kín đáo, hết sức xinh xắn. Tôi không khỏi cảm thán, Lăng Dung một khi chịu khó trang điểm, ăn mặc thì chưa thể kể là tuyệt sắc nhưng cũng có được vẻ yểu điệu khác hẳn ngày thường.

Lăng Dung chầm chậm rót đầy rượu vào chung, rồi uyển chuyển bước lên dâng cho Huyền Lăng. Huyền Lăng mỉm cười đón lấy, uống một hơi cạn sạch. Hoa Phi cười lạnh một tiếng, vờ như không nhìn thấy.

Điềm Quý nhân mỉm cười dịu dàng, nói: “An mỹ nhân chu đáo thật, bọn ta thân là tỷ tỷ mà lại sơ sót quá, đúng là hổ thẹn!”.

Lăng Dung đỏ bừng mặt, không dám đáp lời, vội vã xin phép lui xuống.

Huyền Lăng quay sang nói với Điềm Quý nhân: “Dâng hoa quả trước mặt nàng lên cho trẫm!”.

Điềm Quý nhân vui mừng, ngọt ngào thưa: “Vâng!”. Rồi lại tủm tỉm cười. “Hoàng thượng cũng có mà, sao lại đòi của thần thiếp chứ?”.

Huyền Lăng cười nhạt. “Trẫm thấy nàng có hoa quả mà chẳng thèm ăn, chỉ thích nói chuyện, vậy thì cứ đem hoa quả của nàng dâng lên cho trẫm, để khỏi lãng phí đó mà”.

Điềm Quý nhân đỏ mặt tía tai, không ngờ mới lỡ lời một câu đã bị Huyền Lăng mỉa mai đến vậy. Nàng ta nhất thời ngẩn ra chẳng biết phải làm sao, một lát sau mới miễn cưỡng mỉm cười, thưa: “Hoàng thượng đúng là thích trêu chọc thần thiếp mà!”. Nói xong thì ngượng ngập không dám nhiều chuyện nữa.

Màn gấm buông rủ khẽ bay phất phơ, hương rượu cùng mùi phấn son và mùi hương của nữ tử quấn quýt, hòa quyện, tạo nên bầu không khí say mê, ám muội.

Tôi vờ như vô tình, khẽ đưa quạt tròn đã ướp hương trầm lên che mũi, giấu đi nụ cười lạnh nhàn nhạt nơi khóe môi.

Đưa Lăng Dung ra tranh sủng quả nhiên không sai, nàng ta rất được Huyền Lăng để tâm đến. Nhưng mà…

Dưới những tia nắng cuối cùng còn sót lại, mấy gốc hoa bên ngoài điện lộng lẫy như lửa như đuốc, đỏ rực tựa ráng chiều. Cành hoa dọc ngang chi chít, khẽ rung rinh trong làn gió nhẹ, in bóng lên màn cửa sổ hoa lệ, khiến người ta nhìn mà quên cả thời gian.

Tôi đột nhiên cảm thấy, cảnh phồn hoa phù phiếm, hưng thịnh, nói cười này còn chẳng khiến người ta lay động bằng một chút ráng chiều còn sót lại ngoài cửa sổ.

Nhân lúc không ai để ý tới, tôi mượn cớ muốn đi thay y phục, lặng lẽ chuồn ra ngoài.

Trăng lưỡi liềm cong cong thấp thoáng sau mây mờ sương phủ cuối chân trời, ánh trăng lấp loáng trên mái điện bóng bẩy, óng ánh, trong suốt như lớp băng trắng bạc đọng trên vũng nước cạn, ngại ngùng sợ những chấu nhọn trên mái cong sẽ làm tan vỡ sự tĩnh mịch của nó. Bên trong vườn ngự, hương hoa lan tỏa, cành chen bóng mờ, chất chồng lên nhau trùng trùng điệp điệp, được bao bọc bởi một vầng hào quang trắng bạc.

Đã vào cuối tháng Bảy, đêm không còn nóng nực nữa mà có phần lành lạnh. Đôi hài thêu đính trân châu đế mềm của tôi bước từng bước trên sàn đá của hành lang quanh co uốn khúc, gấu váy cọ vào nhau sột soạt.

Tôi đi càng lúc càng xa, một mình trèo lên đài Đồng Hoa.

Đài có tên là Đồng Hoa, nơi người trong cung bốn mùa trèo lên ngắm cảnh. Lấy ý từ trong câu thơ: Hoa ngô đồng vạn dặm, lời ríu rít chẳng ngừng(*).

(*) Phỏng theo Tứ dạ ca, Hồ Lan Thành viết trong tác phẩm Kim sinh kim thế tặng cho Trương Ái Linh. Nguyên tác: “Đồng hoa vạn lý lộ, liên triêu ngữ bất tức”.

Ngô đồng vốn là loại cây tượng trưng cho tình yêu trong sáng, chân thành nhất.

Ngày xưa, Thư Quý phi được tiên hoàng Long Khánh đem lòng yêu, hai người tình sâu ý nặng. Tiếc là mẹ ruột của Long Khánh là Chiêu Hiến Thái hậu không hài lòng với xuất thân khiến người đời dèm pha của Thư Quý phi, không cho phép sắc phong cho bà ở Tử Áo thành. Long Khánh đế bèn triệu tập tất cả những thợ thủ công khéo tay nhất trong cả nước, dựng đài Đồng Hoa ở Thái Bình hành cung, nghênh tiếp Thư Quý phi nhập cung để sắc phong và làm gia lễ. Cho đến khi Chiêu Hiến Thái hậu qua đời, Thư Quý phi sinh được lục hoàng tử Huyền Thanh thì mới được gia phong làm quý phi trong Tử Áo thành.

Lúc rảnh rỗi, tôi có lật xem Chu sử, sách sử đối với vị phi tử xuất thân đáng ngờ nhưng lại chiếm được tình yêu trọn kiếp của đế vương hệt như trong truyền thuyết này chỉ còn lưu lại vài ba dòng ngắn ngủi, rằng: “Phi họ Nguyễn, con gái của Nguyễn Duyên Niên, tri sự Bình Chương, năm mười bảy tuổi vào cung, được Hoàng đế sủng ái, vượt hẳn lục cung, ban đầu được lập làm phi, ban hiệu Thư, tháng mười năm thứ mười hạ sinh hoàng tử Thanh, tấn quý phi, nhận sắc làm lễ, đại xá thiên hạ, lễ chế ngang với Hoàng hậu. Đế mất, phi tự xin xuất gia tu đạo”. Chỉ lướt qua ngắn gọn như thế nhưng đã tóm gọn cả cuộc đời của nữ nhân này. Lòng sủng ái của tiên đế đối với bà ta có thể thấy được một phần trên đài Đồng Hoa này. Đài Đồng Hoa cao ba trượng chín thước, lát bằng đá bạch ngọc, lầu quỳnh hiên ngọc, cột kèo hào hoa, lấp lánh ánh cát tường. Bên cạnh đài trồng đường lê và ngô đồng, xanh um tươi tốt. Có thể tưởng tượng được thuở xưa vào mùa xuân, hạ, hoa nở hoặc tinh khiết như tuyết, hoặc tím nhạt như sương, rực rỡ khoe sắc, mùi hương thầm thanh nhã. Thư Quý phi và Tiên đế tựa vào nhau ngắm hoa, thì thầm lời mật ngọt, đúng là cảnh tượng lãng mạn, thâm tình biết mấy.

Tôi thầm than thở: Hoa ngô đồng vạn dặm, lời ríu rít chẳng ngừng, đúng là tình thâm ý trọng, ân ái triền miên khó mà tả được.

Trong số bốn đời thiên tử của Đại Chu, trọn kiếp yêu chỉ một người thì chỉ có Long Khánh đế mà thôi. Thế nhưng, nếu như đế vương chỉ chung tình với một người thì e đó chính là nguyên do dẫn đến sự chia rẽ, hỗn loạn trong hậu cung và triều đình.

Có lẽ thân là đế vương thì định sẵn phải ban ân mưa móc đều khắp cho mọi nữ nhân trong lục cung.

Nở nụ cười thê lương, tôi vốn đã thấu hiểu hết thảy, vậy còn thương cảm thêm làm gì?

Người xưa đã khuất bóng, đương kim Thái hậu cho rằng đài Đồng Hoa quá sức xa hoa, không có lợi cho nước nhà, nên dần dần nơi này bị bỏ hoang. Thêm vào địa thế đài Đồng Hoa khá cao, lại ở chỗ vắng vẻ, ngày thường rất hiếm có người qua lại, đến đám cung nữ, nội giám lo việc quét dọn cũng lười biếng trốn việc. Tay vịn và bậc thềm bị phủ một lớp dày lá rụng và bụi bặm, phía trên đài rộng thênh thang mọc đầy cỏ dại. Thời điểm này cây hoa đều héo rũ hết cả, nhưng cỏ dại, hoa dại đầy đất vẫn tươi tốt, sinh cơ tràn đầy.

Tôi buồn bã nghĩ bụng, chuyện tình có đẹp đến mấy, tuyệt vời đến mấy thì cuối cùng cũng chỉ là một chớp mắt phù vân mà thôi.

Dưới ánh trăng lạnh lẽo, trong trẻo, tôi thấy ở phía góc đài có mấy cụm hoa trắng li ti sum suê nở rộ, dây leo lá xanh tươi tốt, lòa xòa đáng yêu. Cành hoa mảnh mai như hàng mày cong cong của nữ tử, bông hoa u buồn duyên dáng, trắng muốt không hương, những cánh hoa mỏng manh tựa sương sớm, yếu ớt như thể chạm vào là vỡ. Tôi bất giác sinh lòng thương tiếc, dè dặt vươn tay định vuốt ve.

Đột nhiên có một giọng nói trong trẻo vang lên từ phía sau: “Cô nương không biết đây là loài hoa gì sao?”.

Tôi thầm rùng mình hoảng sợ, nơi này hoang vắng, xa xôi, sao lại đột nhiên xuất hiện giọng nói của nam tử cơ chứ? Tôi thậm chí còn không phát hiện ra y tiến lại gần mình từ lúc nào nữa. Cố gắng nén cơn hoảng hốt, tôi quay người, cao giọng quát hỏi: “Là ai?”.

Thấy rõ người đó là ai, tôi mới yên lòng đôi chút, tự biết mình đã thất lễ nên có phần ngượng ngập. Y chỉ tủm tỉm cười, ung dung hỏi tôi: “Sao Tiệp dư lần nào nhìn thấy tiểu vương cũng hỏi là ai vậy? Xem ra đúng là bề ngoài của tiểu vương khó gây ấn tượng sâu đậm với người khác rồi”.

Tôi nhún mình, thưa: “Vương gia lần nào cũng thích xuất hiện đột ngột sau lưng người khác, thật khó mà không khiến người ta kinh hoàng”.

Y tủm tỉm cười. “Là do Tiệp dư đi đến trước mặt tiểu vương mà không để ý thấy tiểu vương đấy thôi, chứ chẳng phải tiểu vương thích nấp sau lưng Tiệp dư đâu!”.

Mặt tôi hơi nóng lên. Cây cối trên đài Đồng Hoa um tùm, có lẽ là do tôi không phát hiện ra y từ sớm.

“Sao Vương gia không sớm lên tiếng cơ chứ? Tần thiếp thất lễ rồi!”.

Ánh mắt trong trẻo tựa ánh trăng của y thoáng lướt qua khuôn mặt tôi. “Tiểu vương thấy Tiệp dư hôm nay u sầu, buồn bã, chẳng giống lúc trước chút nào cho nên không dám mạo muội làm phiền. Không ngờ vẫn khiến Tiệp dư sợ hãi, thực tình đó không phải là Huyền Thanh cố ý”. Giọng điệu y khẩn thiết, không có vẻ khinh bạc như lần trước. Ánh trăng nhàn nhạt buông lơi xuống khoảng giữa lông mày của y, gương mặt y phảng phất nét bi thương.

Tôi thầm lấy làm lạ nhưng không để lộ ra mặt, nói: “Chỉ là hơi say, cảm ơn Vương gia đã quan tâm”.

Y tựa hồ nhìn thấu được nỗi bi thương sâu kín của tôi, nhưng vẫn giữ nụ cười mỉm nhàn nhạt như sương, không lên tiếng vạch trần mà chỉ nói: “Tiệp dư dường như rất yêu thích mấy đóa hoa nhỏ ở góc đài?”.

“Đúng vậy! Trong cung rất hiếm khi thấy loài hoa này, đúng là mới mẻ, độc đáo”.

Y chầm chậm bước tới, đưa tay hái một đóa hoa rồi đưa lên mũi ngửi. “Hoa này có tên là tịch nhan(*), quả thực không nên trồng ở trong cung. Người trong cung chẳng bao giờ trồng loài hoa bạc mệnh này cả”.

(*) Còn gọi là hoa hồ lô, thường nở dưới chân tường, tối nở sớm tàn, truyền thuyết gọi là hoa bạc mệnh.

Tôi hơi ngạc nhiên. “Hoa mà cũng bạc mệnh sao? Tần thiếp cứ nghĩ chỉ có nữ nhân mới có thể ví là bạc mệnh mà thôi!”.

Y hơi ngẩn ra, tựa như đăm chiêu nhưng rồi lại ung dung mỉm cười. “Bởi loài hoa này hèn mọn, chỉ sống ở chân tường, nở rộ lúc hoàng hôn, bình minh đã tàn lụi. U buồn duyên dáng, rồi lặng lẽ tàn úa, chẳng ai ngắm nghía, cho nên mới được ví là bạc mệnh”.

Tôi nghe vậy bèn tủm tỉm cười. “Chỉ vậy thôi mà đã bị gọi là bạc mệnh sao? Tần thiếp lại cảm thấy loài hoa này không hề tầm thường. Tịch nhan ư?”.

“Chắc là có ý chỉ nhan sắc tươi đẹp dưới ánh tà dương chứ gì!”. Lời vừa nói dứt, nghe thấy y và tôi đồng thanh nói một câu, tôi bất giác mỉm cười, hỏi lại: “Vương gia cũng thấy vậy sao?”.

Đêm nay, Huyền Thanh khác hoàn toàn với lần gặp trước, lặng lẽ, khoan thai đứng giữa đêm hè trăng sáng, hoa thơm, giọng nói trong trẻo tựa trăng non góc trời. Tôi cũng dần cảm thấy thoải mái hơn, đưa tay vén mấy sợi tóc mai bị gió thổi tung.

Y đứng vịn tay vào nhành ngọc lan, Thái Bình hành cung dưới ánh trăng tựa như mặt hồ mênh mang, bên trên lấp lánh vô số ánh sao vỡ vụn. Hơn vạn ngọn đèn lồng chụp lóng lánh, tua rua quý giá, phản chiến ánh sáng lộng lẫy. Đúng là cảnh tượng: Cổng đỏ sáng lay, vàng giải đất, cửa quỳnh tuyết rọi, ngọc làm nhà(*)”.

(*) Hồng lâu mộng hồi 5, Tào Tuyết Cần tả cảnh Bảo Ngọc nhìn thấy cung điện của Cảnh Ảo tiên cô. Nguyên tác: Quang diêu chu hộ kim phô địa, tuyết chiếu quỳnh song ngọc tác cung.

Chỉ cảm thấy bao phú quý, phồn hoa ấy cách tôi thật xa, trước mắt tôi lại chỉ có cụm hoa tịch nhan trắng muốt, li ti đang lặng lẽ nở rộ.

“Nghe nói mấy ngày gần đây, vị An Mỹ nhân ngồi ở ghế trên bên cạnh Hoàng thượng cất tiếng ca thánh thót trong dạ yến là do Tiệp dư tiến dẫn với Hoàng thượng?”. Y nhìn tôi, cất tiếng cười khẽ, khóe môi cong lên, lặng lẽ, lạnh lùng khiến người ta cảm thấy thê lương. “Tiệp dư có phải chạnh lòng vì nàng ta hay không?”.

Trong lòng nặng trĩu, tôi bất giác lùi lại một bước, cây trâm vàng chạm ngọc hình cánh bướm rung rinh không ngừng, cánh bướm lạnh lẽo và hạt châu trơn nhẵn khẽ va vào trán tôi. Tôi cố nở nụ cười xa cách, lên tiếng: “Vương gia nói đùa rồi!”.

Y khẽ thở dài, đưa mắt nhìn sang nơi khác: “Tiệp dư có từng nghe qua câu: Được sủng ái chẳng khác gì chuốc hận vào người. Ân sủng của đế vương quá đầu thì cũng như bị hơ trên lửa nóng, mười phần khổ sở”.

Tôi cúi thấp đầu, từ đáy lòng gợn lên chút lạnh giá, miệng nói: “Vương gia hôm nay tựa hồ có nhiều cảm xúc thì phải!”.

Y chậm rãi trả lời: “Thực ra có người chia sẻ sủng ái cũng là chuyện tốt, nếu không, ba ngàn sủng ái ôm trọn vào thân, trở thành mục tiêu oán trách của cả lục cung, khi đó, Huyền Thanh quả thực phải khóc than thay cho Tiệp dư rồi!”.

Tôi cúi đầu ngẫm nghĩ lời nói của y, trong lòng cảm kích, bèn lên tiếng tạ ơn: “Cảm ơn Vương gia nhắc nhở!”.

“Thực ra thì Tiệp dư là kẻ thông minh, hiểu chuyện, lời nói của tiểu vương cũng là thừa mà thôi. Chỉ là tiểu vương đứng ngoài giơ mắt nhìn, lòng của Tiệp dư tựa như có chút rối loạn”.

Tôi cụp mi mắt, thật không ngờ y lại quan sát tỉ mỉ đến thế, bèn nở nụ cười thê lương. “Lời của Vương gia, tần thiếp đã hiểu rõ rồi!”.

Y vươn tay vuốt ve cây sáo dài giắt ở thắt lưng, dưới ánh sáng mờ ảo, cây sáo tỏa ra hào quang yếu ớt. “Hẳn là Tiệp dư trao trọn tình ý cho Hoàng thượng”. Mặt tôi ửng đó, còn chưa kịp trả lời, y đã nói tiếp: “Hoàng huynh là vua của một nước, có một số chuyện không thể nào tránh được, xin Tiệp dư hiểu cho hoàng huynh!”. Y thở dài buồn bã rồi lại nở nụ cười tươi sáng trên khóe môi. “Thực ra, tiểu vương rất may mắn khi không phải mang nặng thân phận đế vương, có thể tránh được bao nhiêu điều bất lực, phiền phức vấn vít quanh người”.

Tôi không nhịn được cười. “Ví dụ như có thể tha hồ có thêm thê thiếp, chỉ cần mình thích là được, không bị chính sự ảnh hưởng. Vương gia nổi danh khắp thiên hạ, hẳn là người tình trong mộng của không biết bao nhiêu nữ tử chốn khuê phòng”.

Y phá lên cười, cánh chuồn trên mũ vàng lay động, sau đó nghiêm mặt, bảo tôi: “Tiểu vương chỉ hy vọng có người cùng chí hướng ở cạnh bên, không cầu vợ hiền thiếp đẹp đông đảo làm gì”. Thấy tôi đưa tay áo lên che miệng cười, y bèn nói tiếp: “Tiệp dư không tin lời nói của tiểu vương sao? Ta cho rằng cưới nhiều thê thiếp thì sẽ dẫn đến tranh giành, nếu thật lòng với một ai đó thì tuyệt đối không để người đó đau lòng”.

Tôi nghe vậy thì bất giác buồn bã đến thất thần, y thấy thế bèn nói: “Chẳng biết vì sao, khi gặp Tiệp dư, ta lại nói những lời nhảm nhí chẳng bao giờ thổ lộ với ai khác. Tiệp dư xin đừng để ý đến!”.

Tôi nghiêm mặt thưa: “Nếu được như lời Vương gia vừa nói thì lục Vương phi tương lai hẳn sẽ hạnh phúc lắm. Tần thiếp nhất định sẽ chúc phúc cho hai người”. Dừng lại một thoáng, tôi nói tiếp: “Lời khuyên của vương gia hôm nay rất hữu ích với tần thiếp. Tần thiếp sẽ luôn ghi khắc trong lòng”.

Khuôn mặt tuấn tú của y như bị che phủ bởi nụ cười nhàn nhạt, ẩn chứa nỗi buồn thương thấp thoáng, như có như không, nhìn chẳng khác gì trời quang đột nhiên nổi gió, sương lạnh như tuyết phủ lên ngói uyên ương độ cuối thu, phong thái u buồn, đau xót không sao nói được thành lời. “Tiệp dư không cần tạ ơn. Thực ra thân là người ngoài cuộc, cũng không nên chõ miệng vào. Chỉ có điều, ta không hy vọng hoàng huynh quá sủng ái Tiệp dư, khiến cho Tiệp dư có một ngày phải đi lại vết xe đổ của mẫu phi của ta, cả đời làm bạn bên đèn xanh Phật bà(*)”. Ánh mắt của y mơ màng như đang dõi nhìn về nơi xa, bóng rọi xuống đất khẽ rung rinh như sóng gợn hồ thu.

(*) Nghĩa đen: ngọn đèn dầu leo lét bên bức tượng Phật. Nghĩa bóng: đời đời kiếp kiếp cô đơn, tịch mịch nơi cửa Phật.

Tôi không biết nói lời nào để an ủi y. Đột nhiên bị nỗi thống khổ sâu kín của y làm cho chấn động, cả người tôi chợt lạnh giá. Thì ra bên trong có bao ẩn tình khúc chiết. Thư Quý phi tựa hồ không phải là tự nguyện xuất gia. Dẫu có được ba ngàn sủng ái của đế vương, chúng cũng chẳng thể chắc chắn được sự an toàn cho bà ta suốt quãng đời còn lại.

Trong cuộc chiến của nữ nhân trong cung, bất kể ngươi từng có bao nhiêu ân sủng, cuối cùng là vinh hay nhục cũng chỉ được quyết định trong thoáng chốc, thắng làm vua, thua làm giặc.

Chuyện xưa tích cũ, biết quá nhiều cũng chẳng đem lại lợi ích gì cho tôi.

Tôi bước lại gần, nhỏ giọng khuyên: “Vương gia, nếu ngài quá buồn thương như vậy, Thư Thái phi biết được thì chỉ e trước mặt Phật cũng chẳng thể yên lòng. Xin ngài hãy nghĩ đến tấm lòng của Thái phi!”.

Ánh trăng chiếu lên vạt áo phất phơ của Huyền Thanh, tỏa ra hào quang trong suốt.

Y yên lặng, tôi cũng lặng yên. Gió len lỏi qua cành cây ngọn cỏ, tiếng xào xạc vọng vào tai.

Chúng tôi chợt quay lại nhìn nhau. Tôi đột nhiên nghĩ tới một câu từng đọc qua ở đâu đó: “Ôn hòa như ngọc”. Không sai, đúng là “ôn hòa như ngọc”. Nhưng chỉ trong chớp mắt, tôi cảm thấy không ổn, quay đầu nhìn sang chỗ khác. Trên đài, gió mát dìu dịu thổi tới, tóc mai từng sợi tung bay, vạt áo màu xanh lam của y cũng phất phơ lay động. Không khí ẩm ướt buổi đêm mơn trớn làn da mát lạnh, tôi chậm rãi nhấm nháp hàm ý trong lời nói của y, một hồi lâu sau, giọng y vang lên, chầm chậm như làn sương uể oải: “Tịch nhan là hoa chỉ nở được một đêm. Cũng như mối tình không thể ra ngoài ánh sáng, người đời không thể chấp nhận vậy”.

Nội tâm tôi hơi chấn động, pha chút bất an. Ống tay áo thêu hoa xanh chỉ bạc lúc lạnh lúc ấm ve vuốt cổ tay tôi, tôi không biết nói gì mới phải. Chuyện xưa trong cung, thực tình tôi không nên biết. Thế nhưng chuyện tình giữa Thư Quý phi và Tiên đế, người đời ai cũng rõ mồn một, chuyện tình vượt qua sự chê trách của thế gian hẳn là tràn đầy kiên định và cảm thương.

Không biết tình cảm của Huyền Lăng đối với tôi có sánh được một phần tấm lòng của Tiên đế dành cho Thư Quý phi hay không?

Ngẩng đầu nhìn thấy mặt trăng đã nghiêng về phía tây được mấy phần, tôi vén váy cáo từ: “Ra ngoài đã lâu, chỉ sợ cung nữ lo lắng kiếm tìm, tần thiếp xin cáo từ trước!”. Vừa đi được hai bước, tôi đã nghe thấy y lên tiếng: “Lần trước mạo phạm Tiệp dư, tiểu vương xin có lời tạ lỗi!”. Giọng y dần chùng xuống: “Ngày sinh nhật của Ôn Nghi cũng chính là ngày mẫu phi ta rời cung vào mười năm trước. Ta nhất thời không kiềm chế được, phóng đãng bỡn cợt, đúng là thất lễ!”.

Trong lòng chợt có chút ấm áp trào dâng, tôi quay đầu, mỉm cười. “Không biết Vương gia muốn nhắc đến chuyện xảy ra vào lúc nào vậy, tần thiếp đã không còn nhớ đến nữa”.

Y nghe thấy vậy thì hơi ngẩn người, nụ cười mỉm càng lúc càng tỏa sáng dưới ánh trăng: “Vậy ư? Ta cũng chẳng còn nhớ rõ nữa”.

Vạt váy dài khẽ lướt qua thềm ngọc phủ đầy bụi bặm. Tôi giẫm lên bóng trăng lờ mờ, chầm chậm bước xuống đài, sau lưng loáng thoáng nghe thấy tiếng ngâm nga than thở đầy ưu thương của y. Không biết y đang than thở cho tôi hay là đang nhớ nhung mẫu phi của mình?

Sương trắng mềm chừ, lệ tịch nhan, hoa nhờ ánh nước, hương thêm dịu, phải chăng là người chừ, ánh mắt tình. Hoa tịch nhan chừ, hương thơm ngát, chiều vắng mịt mù thật mông lung, làm sao nhìn được chừ, gương mặt thật(*).

(*) Tác giả Tử Thị Bộ trong Nguyên Thị Vật Ngữ.

Tịch nhan, loài hoa đẹp đẽ mà buồn thương. Có được vẻ trong trẻo chóng tàn tựa tuyết trắng, khiến người đau lòng.

Vào đêm nỗi đau xót dâng trào đó, tôi đã gặp được một người cũng đau lòng chẳng kém gì tôi.

Tôi khẽ thở dài, ngày hè nóng nực không ngờ cũng sắp trôi qua, chẳng mấy chốc mùa thu sẽ đến.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s